Chủ Nhật , 19 Tháng Mười Một 2017
Home / THẦN HỌC / THẦN HỌC MỤC VỤ: NHỮNG KHUYNH HƯỚNG THẦN HỌC MỤC VỤ

THẦN HỌC MỤC VỤ: NHỮNG KHUYNH HƯỚNG THẦN HỌC MỤC VỤ

Theo cha Midali, đừng kể những nơi vẫn còn coi “mục vụ” như một lớp học về những kỹ năng thực hành, có ba khuynh hướng chính trong thần học mục vụ:

  1. a) Khuynh hướng cổ truyền, xoay quanh hàng “giáo sĩ” (clerocentrica), cho rằng thần học mục vụ là việc thi hành chức vụ của các mục tử (giám mục và linh mục): ngôn sứ, tư tế, cai quản, tóm vào bốn hoạt động (giảng Lời Chúa, phụng tự, hiệp thông và phục vụ).
  2. b) Khuynh hướng thứ hai đặt Giáo hội làm trung tâm (ecclesiocentrica). Chủ thể của hoạt động mục vụ là cộng đồng các Kitô hữu, gồm bởi các vị chủ chăn (giáo sĩ), các giáo dân, các tu sĩ, sinh hoạt giữa xã hội nhân loại. Vì thế trọng tâm đặt ở mối tương quan giữa Giáo hội và xã hội.
  3. c) Khuynh hướng thứ ba lấy trung tâm là con người hoặc Nước trời (antropocentrica, regnocentrica). Họ muốn đi ra ngoài biên cương của Giáo hội, để gặp gỡ những nền văn hóa, những tôn giáo, những chủng tộc, những chủ nghĩa chính trị. Trọng tâm đặt ở Nước Trời, mà theo họ, hiện diện kể cả bên ngoài ranh giới của Kitô giáo.12 Khuynh hướng này khá mạnh nơi các tác giả Tin lành, và họ thích dùng từ ngữ “thực hành” (thay cho “mục vụ”). Chúng ta có thể kể ra J. Moltmann như một tác giả điển hình, cùng với nhiều thần học gia Á châu, và chúng ta cũng có thể xếp “thần học chính trị” (J.B. Metz), “thần học giải phóng” (Mỹ châu Latinh) trong khuynh hướng này.

Nói chung, các tác giả Công giáo nghiêng về khuynh hướng thứ hai, tuy có người tiếp tục muốn duy trì từ ngữ “thần học mục vụ” nhưng cũng có người muốn thay thế bằng “thần học thực hành”. Như đã nói trên, thuật ngữ “thần học thực hành” bắt nguồn từ các tác giả Tin lành, và mang một lãnh vực rộng hơn là “thần học mục vụ”, bởi vì bên Tin lành, gồm cả thần học luân lý nữa (thực hành Lời Chúa trong cuộc sống cá nhân hay cộng đồng). Ngoài ra thiết tưởng cũng không nên quên ý nghĩa hàm hồ của từ “thực hành” (praxis). Thực hành không chỉ đối lại với lý thuyết mà còn bao hàm nhiều ý tưởng khác. Triết học Hy-lạp phân biệt praxis (hành động nội tại, thí dụ hành vi nhân đức) và poiesis (hành động ngoại tại). Đối với Marx, praxis được đặt làm tiêu chuẩn của chân lý, và hiểu về hoạt động cách mạng thay đổi xã hội. Thiết tưởng cũng đừng lẫn lộn giữa “thần học thực hành” và “thực hành thần học”. Thuật ngữ này đã được dùng làm tựa đề của một bộ sách thần học đã được dịch ra tiếng Việt.

  1. Mục tiêu và những đề tài của thần học mục vụ

Thần học mục vụ suy tư về hoạt động của Giáo hội. Điều này giả thiết một ý thức rõ rệt về sứ mạng của Giáo hội: Giáo hội là gì? Giáo hội để làm gì? Môn Giáo hội học (Ecclesiologia) trả lời cho câu hỏi thứ nhất; môn thần học mục vụ trả lời cho câu hỏi thứ hai. Giữa hai câu hỏi đó có liên hệ mật thiết. Theo thứ tự luận lý thì hiện hữu đi trước, hoạt động đi sau (operari sequitur esse); nhưng nhìn lại lịch sử, chính lúc hoạt động mà Giáo hội thể hiện chính mình và ý thức hơn về sứ mạng và căn tính của mình. Chúng ta có thể lấy công đồng Vaticanô II là một ví dụ: Giáo hội học được bàn trong hiến chế Lumen gentium, còn thần học mục vụ được bàn trong hiến chế Gaudium et spes. Giữa hai bên có sự liên lạc. Hiến chế Lumen gentium ra đời trước hiến chế Gaudium et spes: khi soạn thảo văn kiện sau, người ta phải quy chiếu về văn kiện trước (xem số 40-43); tuy nhiên khi hướng đến thế giới và con người thời nay, Giáo hội nhận ra rằng mình cho đi nhưng cũng nhận lại từ các nền văn hóa (số 44), và Giáo hội cũng khám phá sứ mạng của mình nhờ lắng nghe dấu chỉ thời đại. Một cách tương tự như vậy, thần học mục vụ cần đến Giáo hội học để biết rõ căn tính của Hội thánh, và đồng thời khi suy nghĩ về các “hoạt động” của Hội thánh thì cũng làm sáng tỏ hơn sứ mạng của Hội thánh trong thời đại hôm nay.

Cụ thể, thần học mục vụ nghiên cứu cách thức thực hiện sứ mạng của Giáo hội, có thể tóm tắt vào việc phục vụ đức tin qua ba cấp độ sau đây:

  1. a) Dẫn nhập vào đức tin. Đức tin là một hồng ân do Chúa ban, nhưng cũng mong chờ sự đón nhận về phía con người; sự đón nhận này liên hệ đến cả một lối sống. Giáo hội có nhiệm vụ trình bày lời mời gọi của Chúa cho con người.
  2. b) Dẫn dắt đức tin đến mức trưởng thành. Một khi con người đã chấp nhận đáp lại lời cứu độ của Chúa bằng đức tin, Giáo hội cần đồng hành với họ để nuôi dưỡng và nâng đỡ đức tin, không những là đừng để nó suy giảm nhưng nhất là để nó được kiện cường.
  3. c) Duy trì đức tin năng động. Người tín hữu phải dấn thân vào việc xây dựng trần thế, nhưng đồng thời biết rằng các hình thức trần thế còn khiếm khuyết khi đối chiếu với những lý tưởng của thời cánh chung. Giáo hội không ngừng tìm cách giảm bớt khoảng cách giữa cái bất toàn hiện tại với cái lý tưởng của tương lai.

Giáo hội thi hành sứ mạng của mình bằng nhiều cách thế, theo gương Chúa Giêsu đã thi hành sứ vụ bằng cả cuộc đời, bằng lời nói và hành động, đặc biệt là qua cuộc tử nạn và phục sinh. Giáo hội cũng thi hành sứ mạng của mình, tức là thể hiện chính mình, khi phục vụ Lời Chúa bằng lời giảng dạy, bằng những bí tích diễn lại hoạt động cứu độ của Thiên Chúa, bằng những hoạt động khác bày tỏ tình yêu thương của Thiên Chúa với nhân loại. Mặt khác, Đức Kitô đã được gọi là “Lời của Thiên Chúa”; vì thế tất cả mọi hoạt động của Giáo hội cũng có thể gồm tóm lại trong chức vụ “phục vụ Lời Chúa”, dưới nhiều hình thức khác nhau:

– Lời chứng tá của cuộc sống để thu hút, chất vấn những người mà ta gặp gỡ.

– Lời “loan báo” để công bố biến cố cứu độ, thúc đẩy các thính giả hãy bày tỏ thái độ.

– Lời “huấn giáo” để đào sâu ý nghĩa của biến cố cứu độ, tìm cách diễn tả ra cuộc sống.

– Lời “giảng thuyết” để nuôi dưỡng đức tin và giúp nó tăng trưởng.

– Lời “giáo lý” hay “thần học” để hiểu biết thêm đạo lý đức tin, cung cấp một nhân sinh quan, cũng như tìm những ngôn ngữ thích ứng để diễn tả nội dung đạo lý.

– Lời thinh lặng để lắng nghe Thánh Linh dạy dỗ qua những dấu chỉ của thời đại.

– Lời quy tụ cộng đoàn các tín hữu, Lời xây dựng Hội thánh gồm bởi những người tin vào Đức Kitô và để cho Thánh Linh hướng dẫn.

Những điều vừa nói có thể coi như là “nền tảng của thần học mục vụ” hoặc “thần học mục vụ tổng quát”, bàn về những nguyên tắc nền tảng của hoạt động Giáo hội. Sau đó cần đi vào những chi tiết của hoạt động:

– Những chủ thể cá nhân hay cộng đồng của hoạt động, xét theo điều kiện phái tính (nam nữ), hàng ngũ trong Giáo hội (giám mục, linh mục, phó tế, giáo dân), lối sống (hôn nhân, tận hiến), những hình thức hoạt động (cá nhân, nhóm, đoàn thể);

– Những đối thể của hoạt động, xét theo tuổi tác, các điều kiện sinh sống (độc thân hay kết bạn, công nhân, trí thức, nghề nghiệp, cao niên, bệnh tật), các môi trường (gia đình, nông thôn, thành thị), hoàn cảnh đặc biệt về kinh tế chính trị (người nghèo, người bị gạt bỏ, di dân);

– Những hình thức hoạt động chính: lời giảng, cử hành phụng vụ, xây dựng cộng đoàn, phục vụ xã hội;

– Những mô hình hoạt động: mục vụ tại vùng toàn tòng tín hữu thì khác với những vùng “đạo mới”; mô hình nhằm đào tạo sống đức tin trưởng thành hay chỉ dành cho người mới khai tâm;

– Những hình thức tiếp xúc: cá nhân, nhóm, đại chúng; giáo dục, tư vấn, phục vụ;

– Những cơ cấu tổ chức (cộng đoàn cơ bản, xóm, họ, xứ, giáo phận, phong trào, hiệp hội);

– Những bối cảnh văn hóa tôn giáo: khu vực đa tôn giáo, đa văn hóa, hay chỉ có một tôn giáo chính, hoặc vô thần, tình trạng đạo đức của xã hội.

Check Also

Thánh lễ cầu nguyện cho Thân Mẫu cha Anphong Vũ Đức Trung

Thánh lễ An táng cho bà cố sẽ diễn ra lúc 8g00 ngày 09.12.2015 tại giáo xứ Phú Bình. Xin cộng đoàn hiệp thông cầu nguyện cho bà cố Maria Têrêsa.