Chủ Nhật , 19 Tháng Mười Một 2017
Home / THẦN HỌC / THẦN HỌC MỤC VỤ: LỊCH SỬ

THẦN HỌC MỤC VỤ: LỊCH SỬ

Trong số 14 bức thư của thánh Phaolô, các thư gửi cho môn đệ Timôthêô và Titô được đặt tên là “thư mục vụ”; nhưng nhãn hiệu này mới được gắn vào từ thế kỷ 18. Gọi là thư “mục vụ” bởi vì bàn về những bổn phận của người “mục tử”.

Một cách tổng quát, ta có thể nói được rằng tất cả các hoạt động của Giáo hội đều là “mục vụ”, theo nghĩa là nối dài hoạt động của Đức Giêsu vị Mục tử nhân lành, ngõ hầu ơn cứu độ được mang đến cho mọi nơi mọi thời. Xét theo nguyên tắc, chủ thể của các hoạt động là toàn thể Hội thánh, nhưng trên thực tế, người ta thường thu hẹp vào những hoạt động của các vị “chủ chăn”, được hiểu về các giám mục và các linh mục. Tác giả sách Tông đồ công vụ đã tóm tắt vài hoạt động điển hình (x. Cv 2,42-47; 4,32-35): loan báo Tin Mừng (kerygma), giảng dạy (didakhe), cử hành lễ bẻ bánh (leiturgia), kiến tạo hiệp thông (diakonia, koinonia).

Theo dòng thời gian, những hoạt động cơ bản ấy sẽ được khai triển thành nhiều hình thức tùy thuộc vào những hoàn cảnh lịch sử, những điều kiện văn hóa xã hội. Một thí dụ cụ thể: từ thời các thánh tông đồ, cách thức tổ chức các cộng đoàn đã khác biệt tại Giêrusalem và Antiôkia (Cv 13,1), những cộng đoàn tín hữu gốc Do thái hay dân ngoại; sau khi các thánh tông đồ qua đi, cách thức quản trị cũng thay đổi. Từ đó, chúng ta cũng hình dung được rằng hoạt động “mục vụ” của Giáo hội mang hình dạng khác nhau, khi cộng đoàn Kitô hữu chỉ là một thiểu số trong Đế quốc Rôma, hoặc khi đã được thừa nhận  làm quốc giáo. Hoạt động “mục vụ” của Giáo hội tại châu Âu thời Trung cổ khi Kitô giáo đã ăn sâu vào các cơ chế xã hội thì khác với hoạt động “mục vụ” của Giáo hội tại những nơi mà công cuộc loan báo Tin Mừng còn ở giai đoạn sơ khởi.

Nên biết rằng trước đây, các suy tư về “hoạt động mục vụ” dựa theo tình trạng sống đạo tại châu Âu, với những biến chuyển tôn giáo, văn hóa, chính trị tại đây. Một cách tổng quát, người ta nhận thấy vài khúc quặt lớn như sau:

  1. Thời Trung cổ (tk VIII-XV)

Hầu hết dân cư đã theo Kitô giáo. Giáo hội xuất hiện như một thành tố của cấu trúc xã hội. Tôn giáo chi phối cuộc sống văn hóa, chính trị của người dân. Giáo luật và dân luật nhập làm một trong việc ổn định trật tự. Hai kẻ thù chính của Giáo hội cũng như của xã hội là: các lạc giáo (đối nội) và Hồi giáo (đối ngoại);  vì  thế  để  đương  đầu,  cần  thiết  lập  các  Tòa  Tra (Inquisitio) và các cuộc viễn chinh để chiếm lại Đất thánh (Thập tự quân). Trong tổ chức nội bộ, có sự phân biệt giữa các hàng ngũ (giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân), cũng như việc xác định ranh giới (lãnh thổ) các giáo phận và giáo xứ. Bởi vì tiếng Latinh đã trở thành xa lạ, cho nên các giáo dân không còn tham gia phụng vụ cách tích cực, và thay vào đó là các hình thức đạo đức bình dân. Ý thức cộng đồng suy giảm, đưa đến sự phát triển các phong trào tâm linh cá nhân.

  1. Thế kỷ XVI-XVII

Cuộc cải cách của Tin Lành đã gây ra nhiều cú “sốc” cho Giáo hội Công giáo. Thực ra trên bình diện chính trị, trong vài thế kỷ trước đó, sự thành hình của các quốc gia đã làm suy giảm phần nào quyền lực của Giáo hoàng trên các nhà lãnh đạo chính trị (thế quyền). Cuộc cải cách của Luterô đã làm Giáo hội lung lay nhiều hơn nữa, không những vì có những vùng đất đã tách rời khỏi sự kiểm soát của Giáo hoàng, mà hơn nữa, ông còn đòi xét lại cơ cấu của Giáo hội, dựa trên đức tin cá nhân, tuân theo Lời Chúa và chức tư tế phổ quát. Để phản ứng lại, công đồng Trentô khẳng định  vai trò của Giáo hội trong việc thông truyền các chân lý mạc khải, cơ cấu phẩm trật của Hội thánh, hiệu quả “ex opere operato” của các bí tích. Công đồng muốn củng cố lòng đạo đức của các tín hữu dựa trên việc thờ lạy Mình Thánh Chúa, lòng tôn kính Đức Mẹ, giảng dạy giáo lý (và tỏ ra dè dặt với việc đọc Kinh thánh). Các linh mục chú trọng đến việc cử hành bí tích hơn là việc giảng Lời Chúa.

  1. Thế kỷ XVIII-XIX

Đứng trước những cuộc cách mạng chính trị xã hội châu Âu, Giáo hội tách rời khỏi xã hội và hoạt động mục vụ mang tính phòng thủ để bảo vệ đức tin trước những trào lưu lầm lạc. Mối bận tâm chính là giáo dục về luân lý, cổ động việc năng lãnh nhận bí tích và những việc đạo đức. Vào cuối thế kỷ XIX, bắt đầu những cuộc canh tân đời sống đạo: phong trào Kinh thánh, phong trào phụng vụ, phong trào hoạt động xã hội, cũng như nhiều hội đoàn cổ vũ hoạt động tông đồ giáo dân.

  1. Thế kỷ XX

Vào đầu thế kỷ, đã có những sự chuyển hướng về mục vụ, muốn đem Lời Chúa vào cuộc sống. Những biến đổi rõ rệt nữa trong thời kỳ giữa hai thế chiến, với ý thức về việc tham dự phụng vụ tích cực, vai trò của các giáo dân trong Giáo hội, hoạt động đại kết, việc canh tân thần học dựa trên Kinh thánh và các giáo phụ. Một biến cố quan trọng trong đời sống Giáo hội vào giữa thế kỷ là công đồng Vaticanô II. Chúng tôi sẽ trở lại với những định hướng mục vụ của công đồng trong mục tới, khi bàn đến những ảnh hưởng của công đồng đối với thần học mục vụ. Ở đây chỉ cần ghi nhận rằng công đồng không chỉ bận tâm với tình hình châu Âu, nhưng còn nhìn ra toàn thế giới, với những cách thức sống đạo khác nhau. Điều này sẽ được nhận thấy khá rõ vào những năm sau công đồng. Đang khi tại châu Âu, Giáo hội bận tâm với tình trạng tục hóa, thì châu Á chủ trương rằng việc đối thoại với văn hóa và tôn giáo cần được ghi vào hàng ưu tiên; châu Mỹ Latinh muốn phân tích vai trò của Tin Mừng đối với việc thực hiện công bình xã hội, còn châu Phi thì đặt vấn đề tương quan giữa phát triển kinh tế với phát triển tâm linh. Các văn kiện Tòa thánh  nhắc  đến  các hình  thức  “loan báo  Tin Mừng”, “mục vụ”, “tái loan báo Tin Mừng” không hoàn toàn dựa trên ranh giới địa lý ở một lục địa cho bằng những biên cương văn hóa.

Dù sao, hoạt động “mục vụ” không còn chỉ là nhiệm vụ của các “mục tử” chăn dắt đoàn chiên của Chúa nữa, nhưng bao gồm toàn thể những  sinh hoạt nhằm  đưa Tin Mừng vào thế giới. Thần học mục vụ nhằm  tìm ra những đường hướng để thực hiện mục tiêu ấy.

  1. Cho đến công đồng Vaticanô II

1/ Dưới khía cạnh học lý, mãi đến giữa thế kỷ XIX mới có một bước tiến nhờ  tác phẩm  của Anton  Graf (1811-1867), thuộc trường phái Tübingen.  Tuy là nhà thần học công giáo, nhưng tác giả thích thuật ngữ “Thần học thực hành” hơn là “Thần học mục vụ”. Tuy nhiên, tác giả hiểu “thực hành” không theo nghĩa là “áp dụng, thực tiễn” nhưng như là hành động để xây dựng Giáo hội. Như vậy đã có một sự chuyển hướng quan trọng: thần học mục vụ không chỉ dừng lại ở việc thi hành các công tác của mục tử, nhưng cốt ở việc xây dựng Giáo hội. Để xây dựng Giáo hội, cần có nhiều yếu tố: a) những yếu tố siêu việt (Thiên Chúa, Đức Kitô, Thánh Linh, ân sủng, mạc khải); b) các cơ chế (lễ lạy, đền thờ, Sách thánh); c) những yếu tố cá nhân và xã hội (linh đạo, giáo dục, đời sống đạo). Nói đúng hơn, tác giả hiểu Giáo hội như toàn thể Dân Chúa chứ không thu hẹp vào các linh mục. Thực ra, phải chờ đến công đồng Vaticanô II thì quan điểm này mới được chấp nhận, nhưng ít là chúng ta biết được những ai đã gieo mầm từ một thế kỷ trước! Trên thực tế, Joseph Amberger (1816-1889), một  môn  đệ của Graf đã bài bác tư tưởng của thầy và trở về với khái niệm cổ điển về thần học mục vụ (nghĩa là nhằm  giúp các linh mục thi hành nhiệm vụ của mình).  Michael Benger (1822-1870) loại bỏ ý định  xây dựng Giáo hội, bởi vì chính Chúa Thánh Linh mới thực sự là vị kiến tạo Giáo hội; do đó, thần học mục vụ cần trở về với khuôn mẫu cổ điển là giúp cho các linh mục thi hành nhiệm vụ của mình.

2/ Phải chờ đến giữa thế kỷ XX mới có những bước đột phá trong  lãnh  vực thần  học mục  vụ. Franz Xavier Arnold chủ trương cần phải suy nghĩ về bản chất của hoạt động mục vụ. Hoạt động mục vụ được nhìn như môi giới để chuyển thông ơn cứu độ. Trong tiến trình cứu độ, Thiên Chúa là nguyên nhân chính yếu, còn Giáo hội là dụng cụ. Vai trò của thần học mục vụ suy tư về những hình thức hoạt động của Giáo hội: Lời Chúa, các bí tích, việc chăm sóc các linh hồn. Trong kế hoạch này, các giáo dân có một vai trò tích cực.

Đang khi bên Đức người ta đặt nặng vấn đề suy tư về bản tính thần học của mục vụ, thì bên Pháp người ta muốn tìm những biện pháp cụ thể để đem Tin Mừng vào một môi trường xã hội sống xa Thiên  Chúa  giáo. Phải chăng nước Pháp  là một  xứ truyền giáo? Câu hỏi được đặt làm tựa đề cho một cuốn sách của cha Henry Godin (1943). Vào thời này, nhiều “linh mục thợ” dấn thân hoạt động giữa giới công nhân, một môi trường chịu nhiều ảnh hưởng của phong trào xã hội. Đồng thời, người ta đề ra kế hoạch “mục vụ chung” (pastorale d’ensemble) canh tân các giáo xứ qua việc huy động tất cả nguồn nhân lực để hành động (thay vì dành riêng cho cha sở). Một cách tương tự, ở cấp giáo phận  cũng  cần  nghĩ  đến  “mục  vụ chung”, nghiên  cứu  việc truyền đạo cho các nhóm xã hội, chứ không chỉ hướng đến các cá nhân. Trong việc nghiên cứu này, ngành xã-hội-học góp phần quan trọng.

  1. Công đồng Vaticanô II

Công đồng Vaticanô II không xuất bản một tác phẩm về thần học  mục  vụ, nhưng  đã  vạch ra  nhiều  hướng  đi  cho  những khuynh hướng thần học sau đó. Nên biết là trong các văn kiện của công đồng, thuật ngữ “thần học mục vụ” chỉ xuất hiện một lần (trong Hiến chế về phụng vụ số 16); còn từ “mục vụ” thì được dùng nhiều hơn, và cũng đã gây ra nhiều tranh cãi sôi nổi.

Có tác giả không dựa theo việc phân tích từ ngữ của các bản văn, nhưng đi thẳng vào “mục tiêu mục vụ” của công đồng do chính Đức Gioan XXIII đã vạch ra trong bài giảng khai mạc ngày 11 tháng 10 năm 1962, theo đó công đồng: a) cần phải trung thành bảo vệ đạo lý Kitô giáo và tìm những phương pháp truyền thụ cách hữu hiệu; b) việc truyền thông phải nhằm đến con người thời đại, gồm cả hồn cả xác, vừa là cá nhân vừa là phần tử xã hội, vừa sinh sống trên trần gian vừa hướng đến cứu cách vĩnh cửu; c) cách riêng, trong việc trình bày đạo lý, cần lưu ý đến hoàn cảnh lịch sử, thích ứng với những đòi hỏi của thời đại; d) mục tiêu tối hậu của công đồng là cổ võ sự hợp nhất trong nội bộ Giáo hội, sự hợp nhất với các anh em ly khai, sự hợp nhất với tín đồ các tôn giáo, sự hợp nhất của gia đình nhân loại.

Dựa theo ý hướng ấy, ủy ban biên soạn “hiến chế mục vụ” về Giáo hội trong thế giới ngày nay (Gaudium et spes) đã phải lên tiếng biện minh cho việc lựa chọn tựa đề. Tại sao gọi là “hiến chế mục vụ”: phải chăng vì muốn đối lại với hai “hiến chế tín lý” (về Giáo hội, về mạc khải)? Phải chăng “mục vụ” đối chọi với “tín lý? Người ta đã trả lời rằng gọi là “hiến chế” vì muốn nêu bật tầm quan trọng của nội dung đạo lý (chứ không chỉ là một sứ điệp); còn gọi là “mục vụ” bởi vì liên quan đến cách thức trình bày đạo lý ấy, bao gồm nhiều lãnh vực (tín lý, luân lý, kỷ luật) liên quan đến thế giới hôm nay, và hướng đến con người thời nay (công giáo, không công giáo, ngoài Kitô giáo).7 Dù sao, văn kiện này đã làm thay đổi quan niệm về “mục vụ”, bởi vì không còn hạn chế vào các chức vụ của “mục tử” theo quan điểm cổ truyền nữa, nhưng bao gồm toàn thể sứ mạng của Hội thánh trong thế giới hôm nay.8 Người ta cũng nhận thấy sự mới mẻ của văn kiện ở phương pháp lý luận: không khởi đầu bằng những nguyên tắc tín lý, nhưng khởi đi từ sự phân tích tình hình hiện tại, tìm hiểu những thao thức của con người; kế đó tìm lời giải đáp nhờ Lời Chúa soi sáng (như vậy là đường lối quy nạp, thay vì diễn dịch). Công đồng cũng du nhập từ ngữ “dấu chỉ thời đại” (số 4; 11; 44) nhằm khám phá tiếng Chúa qua các biến cố lịch sử hôm nay.

Nên biết là ngoài hiến chế “mục vụ”, công đồng vẫn còn dùng từ “mục vụ” theo nghĩa cổ truyền, cách riêng khi nói đến nhiệm vụ của các giám mục (Christus Dominus), hoặc việc đào tạo các chủng sinh thành những “mục tử các linh hồn” nhờ tác vụ lời Chúa, thánh hóa và mục vụ (Optatam totius, 4). Tuy nhiên, cũng trong văn kiện này, ở số 16, công đồng nhắc nhở rằng trong việc đào tạo thần học, các chủng sinh cần được huấn luyện để nhìn nhận các mầu nhiệm cứu độ hiện diện trong các cử hành phụng vụ, cũng như học hỏi cách giải quyết nhưng vấn đề nhân sinh dưới ánh sáng của mạc khải, và áp dụng những chân lý vĩnh cửu vào các điều kiện hay thay đổi của thế giới này. Như vậy, chiều kích “đạo lý” cần được kết hợp với chiều kích “lịch sử” của việc rao giảng Lời Chúa.

  1. Sau công đồng Vaticanô II

Sau công đồng, người ta thấy có nhiều  khuynh  hướng trong thần học mục vụ. Trên phương diện lý thuyết, người ta tìm cách xác định vị trí của nó trong thần học: đó là một ngành áp dụng của thần  học, hay là một định hướng thần  học (chiều hướng mục vụ của thần học)? Nhiều nơi cũng muốn du nhập “thần học thực hành” từ Tin Lành, để thay thế “thần học mục vụ”. Bên cạnh đó, nhiều khi “thần học mục vụ” được hiểu như là “suy tư thần học” về hoạt động của Giáo hội. Theo quan niệm này, điều quan trọng không phải là xây dựng một học thuyết về thần học mục vụ, cho bằng đề ra một kế hoạch hoạt động mục vụ cho Giáo hội, từ cấp giáo xứ, giáo phận, quốc gia. Nói khác đi, người ta nhấn đến “phương pháp hoạt động mục vụ” hơn là “phương pháp thần học mục vụ”.

 

Check Also

Thánh lễ cầu nguyện cho Thân Mẫu cha Anphong Vũ Đức Trung

Thánh lễ An táng cho bà cố sẽ diễn ra lúc 8g00 ngày 09.12.2015 tại giáo xứ Phú Bình. Xin cộng đoàn hiệp thông cầu nguyện cho bà cố Maria Têrêsa.