Thứ Bảy , 23 Tháng Chín 2017
Home / THẦN HỌC / THẦN HỌC MỤC VỤ: CÔNG ĐỒNG VATICAN II: TỪ “MỤC TỬ” ĐẾN “MỤC VỤ”

THẦN HỌC MỤC VỤ: CÔNG ĐỒNG VATICAN II: TỪ “MỤC TỬ” ĐẾN “MỤC VỤ”

Mục vụ trong tiếng Việt dịch  từ  pastoralis, là một tính từ gốc bởi danh từ  pastor (mục tử). Trước đây khoa mục vụ dành cho các linh mục mang nhiệm vụ coi sóc các linh hồn (cura animarum). Công đồng Vaticanô II đã đánh dấu một cuộc chuyển hướng quan trọng.

Trong các văn kiện của công đồng, ta thấy có hai cách hiểu từ “mục vụ”.

1/ Theo nghĩa cổ truyền, công tác mục vụ gắn liền với chức vụ mục tử. Điều này được diễn tả rõ rệt nơi Sắc lệnh về chức vụ mục tử của Giám mục. Ý nghĩa này cũng phản ánh nơi Sắc lệnh về các linh mục  (số 3-6), Sắc lệnh về đào tạo linh mục (số 19-21).

2/ Một ý nghĩa mới mẻ được sử dụng  với Hiến chế mục vụ  “Về Giáo hội trong thế giới ngày nay”. Chủ thể của công tác mục vụ không còn là các linh mục mà thôi, nhưng tiên vàn là Giáo hội, cộng đoàn các tín hữu. Giáo hội lãnh nhận từ Chúa Kitô một sứ mạng phải chu toàn. Tất cả các tín hữu (giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo dân) đều tham gia vào sứ mạng này.

– Phương pháp trình bày của văn kiện (Hiến chế “mục vụ”, khác với hai hiến chế “tín lý) cũng khác: thay vì đường lối diễn dịch, văn kiện áp dụng phương pháp “xem – xét – làm”, nhằm đối thoại với thế giới, vượt ra khỏi biên cương của xứ đạo, để phục vụ những nhu cầu của toàn thể nhân loại. “Đối thoại” giả thiết sự lắng nghe: Giáo hội không chỉ “giảng dạy” cho đời, nhưng cũng “học hỏi”  từ đời.

–  Khi đối thoại với thế giới hiện đại, hiến chế Vui mừng và Hy vọng đã đặt đức Kitô làm trung tâm: duy chỉ có Ngài mới là Đường, là chìa khoá của lịch sử. Nói khác đi, mục tiêu tối hậu của hoạt động MV không phải là bành trướng Giáo hội mà là đem Đức Kitô đến gặp gỡ con người thời đại, con người bằng xương thịt, sống trong những môi trường cụ thể của lịch sử, xã hội. Chính đức Kitô sẽ giúp cho con người sống trọn thiên chức của mình.

Chiều Kích Mục Vụ Của Thần Học, Và Khoa Thần Học Mục Vụ

Sau công đồng Vaticanô II, ta thấy có hai quan điểm liên quan đến “thần học” và “mục vụ”: một khuynh hướng thì muốn tổ chức khoa mục vụ thành một bộ môn có học thuyết mạch lạc; một khuynh hướng khác thì muốn biến tất cả nền thần học thành MV, nghĩa là thần học phải thực dụng. Như vậy, ta thấy hai trào lưu trái ngược: một bên thì tạo một lý thuyết thần học cho MV; bên kia thì muốn biến thần học trở  thành hoạt động MV.

1/ Xây dựng lý thuyết cho hoạt động MV

Sau khi công đồng Vaticano II bế mạc, người ta nhận thấy có những cuộc cải tổ sâu rộng trong việc nghiên cứu các ngành thần học: từ thần học Kinh thánh, giáo phụ, cho đến các môn tín lý, luân lý, giáo luật, vv. Cũng trong chiều hướng đó, những ngành thuộc lãnh vực MV cũng đã được canh tân về phương pháp giảng dạy tại những phân khoa hay học viện chuyên ngành, chẳng hạn: truyền giáo, huấn giáo, phụng vụ, học thuyết xã hội học. Một đặc tính của những ngành này là kết hợp đạo lý cổ truyền với những kết quả của khoa học thực nghiệm, tựa như: tâm lý, sư phạm, truyền thông xã hội, vv.

Nói  cách cụ thể hơn, các bộ môn chính của THMV gồm ba ngành chính sau đây, tương ứng với sự thực thi ba sứ vụ: loan báo (martyria), phụng tự (leitourgia) và phục vụ (diakonia) hoặc thông hiệp (koinonia).

  1. a) Nhằm huấn luyện việc thực thi sứ vụ loan báo, có các môn: Giảng thuyết

(Homiletica); Huấn giáo (Catechetica); Truyền giáo (missiologia); thêm vào đó, cần tìm hiểu những hình thức truyền thông hiện đại (báo chí, truyền thanh, truyền hình, internet).

  1. b) Trong việc huấn luyện việc thực thi sứ mạng thánh hoá, ta có thể kể đến: Phụng vụ (Liturgia), cũng như Tu-đức-học (Spiritualitas).
  2. c) Nhằm tới công tác phục vụ và xây dựng cộng đoàn, ta có thể kể rất nhiều bộ môn. (i) Dưới khía cạnh phục vụ bác ái, cán bộ MV cần học hỏi về các lớp người khác nhau cần được để ý (tỉ như người nghèo, người bệnh, người tàn tật, nghiện ngập, bị tù, thất nghiệp, tị nạn, vv.). (ii) Dưới khía cạnh xây dựng cộng đoàn, cần học biết những cơ sở của tổ chức Giáo hội (tỉ như giáo phận, giáo xứ, hội đoàn) cũng như những cơ sở dịch vụ (trường học, nhà xuất bản, cơ quan truyền thông), kế đó phải lưu ý đến các thành phần khác nhau của cộng đoàn, tiên vàn là các gia đình, với những lớp tuổi khác nhau; rồi đến các môi trường nghề nghiệp, kinh tế, chính trị vân vân. Trong lãnh vực này, các khoa học nhân văn giữ vai trò rất quan trọng, tỉ như: sư-phạm, tâm-lý-học MV, xã hội-học MV, y khoa MV, truyền thông xã hội vv.

Ngoài ra, với những viễn ảnh mới của thế giới hôm nay, nhiều chuyên ngành cũng lần lượt ra đời, chẳng hạn như : thần học đại kết (theologia oecumenica), thần học truyền giáo (missiologia), mục vụ hôn nhân gia đình, mục vụ di dân, vv.-

2/ Chiều kích MV của thần học

Trong khi bên Âu châu, người ta cố gắng tạo ra một lý thuyết thần học cho hoạt động thì bên Mỹ châu latinh, các tác giả Thần học Giải phóng đã đảo lại vấn đề: họ không đi tìm một nền tảng lý thuyết cho hoạt động,  nhưng chủ trương rằng lý thuyết phải lấy hành động làm mục tiêu. Nói cách khác, thay vì ráp MV vào thần học, thì cần phải biến thần học thành MV. Ở đây chúng tôi không muốn đi sâu vào các khuynh hướng của thần học giải phóng, nhưng chỉ chú ý tới phương pháp thần học mà họ đề nghị. Tại Âu châu, ra như thần học MV là phần áp dụng thực tiễn của những nguyên tắc suy diễn từ Kinh thánh và lý trí. Phương pháp này có nguy cơ biến thần học thành một môn học siêu hình. Thần học giải phóng đề nghị đổi hướng: thay vì khởi sự từ những nguyên tắc siêu hình, thần học cần khởi đầu bằng việc sống đức tin giữa môi trường của những người nghèo, những người đã bị tước đoạt nhân phẩm. Chặng kế tiếp là phân tích thực trạng nghèo đói áp bức, dựa trên những dữ kiện của khoa xã hội và dưới ánh sáng của lời Chúa. Lời Chúa trở thành linh động hơn một khi được đối chiếu với môi trường cụ thể, và người đọc Lời Chúa muốn tìm ra phương thức hành động chứ không phải chỉ suy tư suông. Dù sao đi nữa, những phân tích và suy tư cần phải dẫn tới hành động.

Vào những thập niên 60-80, đã có khá nhiều tác phẩm xuất bản dưới tựa đề “Thần học thực hành” (Théologie pratique) hay  “Thực hành thần học” (Pratique de la théologie). Có thể coi đây là một phản ứng lại những thứ thần học từ chương, xây dựng trên những kiến thức trừu tượng trên mây trên gió, không ăn nhập gì với cuộc sống. Một thứ thần học mơ hồ như vậy đã đánh mất động lực nguyên thủy của nó là đức tin. Đành rằng thần học là một thứ suy tư về đức tin (cogitatio fidei), nhưng mà đức tin không có việc làm là đức tin chết. Dĩ nhiên, những suy tư về đức tin chết lại càng chết hơn nữa!

Đó là lý do giải thích một khuynh hướng chung trong các chủng viện và học viện từ sau công đồng Vaticano II là hướng tất cả các môn học sang nhãn giới MV. MV đồng nghĩa với thực dụng hữu ích. Tiếc rằng trên đời này chúng ta dễ rơi từ thái cực này sang thái cực khác: sau khi đã chỉ trích các thứ thần học cổ điển là trừu tượng thiếu thực dụng, chúng ta hướng về các thứ thần học thuần túy thực dụng, không cần đếm xỉa gì tới các khoa lý thuyết nữa, với nguy cơ là làm mất đi cốt tủy của đức tin Kitô giáo. Người ta có thể nhân danh tính chất thực dụng để loại trừ mầu nhiệm Chúa Ba ngôi, việc cầu nguyện, chiêm niệm vv. ra khỏi thần học và cuộc sống!

 

Check Also

Thánh lễ cầu nguyện cho Thân Mẫu cha Anphong Vũ Đức Trung

Thánh lễ An táng cho bà cố sẽ diễn ra lúc 8g00 ngày 09.12.2015 tại giáo xứ Phú Bình. Xin cộng đoàn hiệp thông cầu nguyện cho bà cố Maria Têrêsa.